Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2014
Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014
(TNBĐ)- Việt Nam đề nghị LHQ lưu hành văn bản khẳng định chủ quyền Hoàng Sa
(TNBĐ) - Việt Nam đề nghị LHQ lưu hành văn bản khẳng định chủ quyền Hoàng Sa
Ngày 3/7/2014, Đại sứ Lê Hoài Trung, Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên Hợp Quốc (LHQ) tiếp tục gửi thư lên Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon, đề nghị lưu hành như là những tài liệu chính thức của Đại Hội đồng LHQ (khóa 68) hai văn bản nêu lập trường của Việt Nam về việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; đồng thời khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, bác bỏ các yêu sách không có cơ sở pháp lý và lịch sử của Trung Quốc về chủ quyền đối với quần đảo này.
TIN NÓNG BỂN ĐÔNG (TNBD) https://www.facebook.com/tinnonghoangsavietnam
Ngày 3/7/2014, Đại sứ Lê Hoài Trung, Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên Hợp Quốc (LHQ) tiếp tục gửi thư lên Tổng thư ký LHQ Ban Ki-moon, đề nghị lưu hành như là những tài liệu chính thức của Đại Hội đồng LHQ (khóa 68) hai văn bản nêu lập trường của Việt Nam về việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; đồng thời khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, bác bỏ các yêu sách không có cơ sở pháp lý và lịch sử của Trung Quốc về chủ quyền đối với quần đảo này.
|
Việt Nam đề nghị LHQ lưu hành văn bản
khẳng định chủ quyền Hoàng Sa
|
|
1. Về việc Trung
Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trái phép trong vùng biển của Việt Nam,
tài liệu của ta nhấn mạnh: Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bác bỏ
toàn bộ, cả trên thực tế cũng như pháp lý, các luận cứ của Trung Quốc nêu
trong các văn bản kèm theo các thư ngày 22/5/2014 và ngày 9/6/2014 của Đại
biện Phái đoàn đại diện thường trực nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gửi Tổng
thư ký LHQ. Đồng thời, nêu rõ:
Trung Quốc làm gia tăng căng thẳng ở
Biển Đông bằng các hành động vi phạm luật pháp quốc tế
Tranh chấp về
chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa đã tồn tại từ rất lâu và không phải là
nguồn gốc của căng thẳng gia tăng hiện nay ở Biển Đông. Tình hình căng thẳng
hiện nay xuất phát từ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải
Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam mà tại đó
Việt Nam được hưởng các quyền của một quốc gia ven biển theo qui định của
Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982.
Để bảo vệ hoạt
động bất hợp pháp của giàn khoan Hải Dương-981, Trung Quốc đã huy động hơn
100 tàu hộ tống, trong đó có tàu quân sự vào vùng biển của Việt Nam. Các tàu
hải cảnh của Trung Quốc chủ động liên tục đâm húc, bắn vòi rồng vào các tàu
thực thi pháp luật của Việt Nam. Nhiều bằng chứng dưới dạng băng hình và hình
ảnh do các phóng viên quốc tế quay chụp tại hiện trường cho thấy rõ các hành
động bạo lực, hung hăng này của Trung Quốc.
Đáng lưu ý,
ngày 26/5/ 2014 tàu Trung Quốc đã đâm chìm một tàu cá của Việt Nam mà không
xem xét đến sự an toàn và tính mạng của ngư dân Việt Nam. Các hành động của
Trung Quốc không chỉ vi phạm quy định cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ
lực trong luật pháp quốc tế mà còn là hành động vô nhân đạo đối với những
người đi biển.
Các nỗ lực và thiện chí của Việt Nam
để giải quyết tình hình căng thẳng thông qua đối thoại và các biện pháp hòa
bình khác đã liên tục bị Trung Quốc khước từ
Từ ngày
2/5/2014 đến nay, Việt Nam đã nhiều lần chủ động gửi công hàm, giao thiệp
trên 30 lần ở nhiều cấp khác nhau để phản đối việc Trung Quốc đưa giàn khoan
và tàu hộ tống vào vùng biển của Việt Nam – hành động xâm phạm các quyền chủ
quyền và quyền tài phán của Việt Nam; yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan và
tàu hộ tống ra khỏi vùng biển của Việt Nam. Trước sau như một, Việt Nam kiên
quyết phản đối mọi hành động của Trung Quốc xâm phạm quyền chủ quyền và quyền
tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Việt Nam cũng
yêu cầu Trung Quốc giải quyết tất cả các tranh chấp thông qua các biện pháp
hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển 1982,
tránh để căng thẳng kéo dài và tránh dẫn đến xung đột giữa hai nước.
2. Về chủ
quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, tài liệu của ta nêu rõ: Nước
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hoàn toàn bác bỏ, cả trên thực tế cũng như
pháp lý, yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa (mà
Trung Quốc gọi là “Tây Sa”) nêu trong văn bản của Đại biện Phái đoàn đại diện
thường trực nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gửi Tổng thư ký LHQ ngày
22/5/2014 và 9/6/2014; đồng thời khẳng định rằng các yêu sách của Trung Quốc
là không có cơ sở pháp lý và lịch sử.
Bộ Ngoại giao
ta đã chỉ rõ các tư liệu lịch sử không thống nhất với tuyên bố chủ quyền của
Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Trong các giao thiệp gần đây, Trung
Quốc đã dẫn chiếu đến một số tư liệu như là bằng chứng lịch sử nhằm chứng
minh cho cái gọi là “chủ quyền” của họ đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt
Nam. Tuy nhiên, các “tư liệu” này không có nguồn gốc rõ ràng, không chính xác
và được Trung Quốc diễn giải một cách tùy tiện. Các tài liệu mà Trung Quốc
dẫn chiếu không chứng tỏ rằng Trung Quốc đã thiết lập chủ quyền đối với
quần đảo Hoàng Sa khi quần đảo còn là lãnh thổ vô chủ. Ngược lại, các ghi
chép lịch sử cho thấy Trung Quốc hiểu rằng chủ quyền của họ chưa bao giờ có
quần đảo Hoàng Sa:"
Trong khi đó,
Việt Nam đã cung cấp công khai các tài liệu lịch sử xác thực cho thấy Việt
Nam đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa từ khi quần đảo là lãnh
thổ vô chủ. Ít nhất từ thế kỷ 17, các triều đại nhà Nguyễn đã tổ chức các hoạt
động khai thác sản vật trên các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, tổ chức đo đạc
hải trình và bảo đảm an toàn cho các tàu thuyền của quốc gia khác qua lại tại
khu vực quần đảo Hoàng Sa. Các hoạt động này đều đã được ghi nhận trong các
văn bản chính thức do các triều đình Việt Nam ban hành là các Châu bản hiện
đang được lưu giữ tại Việt Nam.
Trong tài liệu
lưu hành tại LHQ, Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng đưa ra các bằng chứng cho thấy quần đảo Hoàng Sa không được giao cho Trung
Quốc tại các Hội nghị quốc tế trước và sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới
lần thứ 2, như: Hội nghị Cairo (11/1943), Hội nghị Potsdam (7/1945),
Hội nghị hòa bình San Francisco (8/1951), Hội nghị Geneva (1954). Tài liệu
cũng nêu rõ Trung Quốc đã sử dụng vũ lực xâm chiếm trái phép Hoàng Sa. Năm
1956, lợi dụng lúc Pháp rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc đã xâm chiếm nhóm đảo
phía Đông của Hoàng Sa. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã phản đối mạnh mẽ sự
chiếm đóng này. Năm 1974, lợi dụng tình hình chiến tranh ở Việt Nam, Trung
Quốc đã dùng vũ lực chiếm quyền kiểm soát Hoàng Sa từ chính quyền Việt Nam
Cộng hòa. Việc Trung Quốc chiếm đóng bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa không thể
tạo nên chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa.
Trung Quốc đã vi phạm nguyên tắc cấm
đe dọa và sử dụng vũ lực nên không thiết lập được chủ quyền đối với quần đảo
Hoàng Sa
Từ góc độ luật
pháp quốc tế, việc chiếm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của một quốc gia có chủ
quyền là hành vi bất hợp pháp và không thể là cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền. Vì
vậy, chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa vẫn được duy trì và
không bị thay thế bởi sự chiếm đóng bằng vũ lực của Trung Quốc. Bị vong lục
ngày 12 tháng 5 năm 1988 của Trung Quốc - một văn bản chính thức của Bộ Ngoại
giao Trung Quốc - cũng khẳng định rõ một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc
tế là “xâm lược không thể sinh ra chủ
quyền” đối với một vùng lãnh thổ. Không có quốc gia nào trên thế giới
công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.
Việt Nam cũng chưa bao giờ
công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa.
Trung Quốc đã
cố tình xuyên tạc lịch sử và diễn giải sai lịch sử khi viện dẫn Công thư của
cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 và một số tài liệu, ấn phẩm được xuất bản
ở Việt Nam trước năm 1975 để củng cố yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo
Hoàng Sa. Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn không nhắc gì đến
chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa. Tuyên bố đó liên quan đến
các vùng biển, không giải quyết các vấn đề lãnh thổ. Trên thực tế, những kết
luận mà Trung Quốc đưa ra hiện nay đang mâu thuẫn với chính các phát biểu của
Trung Quốc, trong đó có phát biểu của chính nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu
Bình.
Tháng 9/1975,
17 năm sau Công thư nói trên của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng liên quan tới
việc giải quyết bất đồng giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc đối với quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã nói với nhà
Lãnh đạo Việt Nam Lê Duẩn tại Bắc Kinh rằng “với nguyên tắc thông qua Hiệp
thương hữu nghị để giải quyết bất đồng, sau này hai nước sẽ bàn bạc giải
quyết”. Bị vong lục của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 12/5/1988 đã ghi nhận
rõ ràng nội dung phát biểu này của ông Đặng Tiểu Bình, thể hiện nhận thức của
Trung Quốc rằng vấn đề chủ quyền không được dàn xếp có lợi cho phía Trung
Quốc qua các phát biểu hay thỏa thuận trước đây. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc
tôn trọng sự thật lịch sử đó và nghiêm túc đàm phán với Việt Nam về vấn đề
quần đảo Hoàng Sa.
Đây là lần thứ
4 Việt Nam gửi thư đề nghị Tổng thư ký LHQ lưu hành các tài liệu của Việt Nam
liên quan đến việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương - 981
trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và khẳng định chủ
quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa./.
|
TIN NÓNG BỂN ĐÔNG (TNBD) https://www.facebook.com/tinnonghoangsavietnam
(Trung Quốc )- Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay (2)
(TNBĐ) -
TIN NÓNG BỂN ĐÔNG (TNBD) https://www.facebook.com/tinnonghoangsavietnam
Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay
Kỳ 2 - Giang Thanh trước ngày lập 'Đảng Hoàng hậu'
|
|
Lúc danh tiếng của nguyên soái Bành
Đức Hoài đã vang dội ra khỏi biên giới Trung Quốc sau cuộc vạn lý trường
chinh “hai vạn năm nghìn dặm” (1934 - 1936) thì Giang Thanh với “hai bàn tay
trắng” mới lần đầu tiên tìm đến căn cứ Diên An ra mắt Mao Trạch Đông (vào mùa
thu 1938)…
Giang Thanh với thế mạnh của phái
đẹp có đôi mắt to lấp láy, mũi thanh tú và miệng hơi rộng nhưng “khi
mím môi lại, thành đường kẻ chỉ, thì lại hóa ra một nét đẹp quý phái” hiếm
có và rất quyến rũ, cùng thần thái lanh lợi khác người, đã sớm làm“thế
giới nội tâm của Mao Trạch Đông phải rung lên đồng điệu” (sđd, tr.124).
Giang Thanh tìm thấy ở Mao Trạch
Đông người đàn ông mong đợi về cả hai phương diện:nghị lực và quyền lực.
Phía Mao Trạch Đông, ở tuổi 45 cũng nhận ra ở cô thư ký 24 tuổi đang giữ hồ
sơ của Quân ủy Trung ương có những nét nhu mì làm dịu nỗi trống trải của ông
sau ngày người vợ thứ ba (Hạ Tử Trân) từ biệt ra đi.
Để chung sống chính thức với Giang
Thanh, Mao Trạch Đông yêu cầu điều tra về quá khứ của “cô ấy”. Và Khang Sinh
(đồng hương với Giang Thanh) từng ở vị trí lãnh đạo Ban tổ chức Trung ương
Đảng, chuyên gia Phòng mật vụ, đứng đầu ngành tình báo, đã bảo đảm với Mao
Trạch Đông bằng văn bản về “lý lịch hoàn toàn trong sạch” của
Giang Thanh.
Tiếp đó, Mao Trạch Đông thỉnh thị ý
kiến của Đảng. Ban Bí thư Trung ương chấp thuận để Mao Trạch Đông kết hôn
Giang Thanh cuối năm 1938 với điều kiện Giang Thanh chỉ “phụ trách
việc chăm sóc đời sống, ăn ngủ, sức khỏe” của Mao Trạch Đông và không
được phép“đảm nhiệm bất kỳ chức vụ gì trong Đảng, không được có ý kiến về
nhân sự của Đảng, cũng như tham gia các hoạt động chính trị khác trong vòng
20 năm”. Dĩ nhiên, Giang Thanh không vui gì lắm, nếu không muốn nói
là bực bội đối với “khung” quy định ấy.
Mãi 24 năm sau, vào tháng 9.1962, khi phu nhân
tổng thống Indonesia: bà Sukarno sang thăm Trung Quốc, chủ tịch nước Lưu
Thiếu Kỳ cùng phu nhân Vương Quang Mỹ đón ngày 24.9 theo nghi lễ ngoại
giao là đủ rồi. Nhưng bất thần, Mao Trạch Đông quyết định tiếp bà Sukarno
buổi khác nữa, có cả Giang Thanh cạnh ông. Ngay sau buổi tiếp, Nhân
dân nhật báongày 30.9 đã in trang đầu bức ảnh cỡ lớn chụp Mao Trạch Đông
và Giang Thanh xuất hiện bên nhau trong buổi tiếp phu nhân tổng thống
Sukarno. Đó là tín hiệu đầu tiên cho thấy Mao Trạch Đông muốn chính thức giới
thiệu Giang Thanh bước lên vũ đài chính trị mà “không cần một lời tuyên bố”
nào.
Về sau, ban đầu Mao Trạch Đông đưa
Giang Thanh vào vị trí “Tổ phó thứ nhất của Tổ cách mạng văn hóa” (1966), rồi
dần dần nắm thực quyền “thay thế cả Ban Bí thư và Bộ Chính trị, trở
thành cốt lõi Bộ Tư lệnh mới của Mao Trạch Đông” để thật sự “leo
lên đỉnh cao quyền lực”, ra tay “sát phạt” nhiều
danh thần, mà nguyên soái Bành Đức Hoài là “tội phạm đặc biệt”số
một.
Thật ra nguyên do (thường được các
nhà nghiên cứu nhắc tới) có thể bắt nguồn từ năm 1959, khi Bành Đức Hoài mạnh
miệng phê phán “bước tiến nhảy vọt” của Mao Trạch Đông đã “sai lầm từ gốc
rễ”. Hơn 45 năm sau (tháng 9.2005), lời phê phán ấy mới chứng thực rõ ràng
lần nữa qua số liệu chính thức được giải mật theo Quyết định của Bộ Chính trị
Đảng Cộng sản Trung Quốc là: trong 4 năm thực hiện “bước tiến nhảy vọt” đã
đưa đến thảm kịch:37,55 triệu người chết đói (nhiều hơn số người
chết trong chiến tranh thế giới thứ hai).
Tài liệu của Tân Tử Lăng - nguyên
cán bộ nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện Quân sự cấp cao, Đại học Quân
chính, Đại học Quốc phòng Trung Quốc - bản dịch của Thông tấn xã Việt Nam -
ghi nhận về một trong những cảnh đau lòng nhất trong “nạn đói lịch sử” ấy,
cho biết vì không còn gì ăn nên “nạn ăn thịt người đã diễn ra ở Tứ
Xuyên và nhiều nơi khác - khi chôn người chết chỉ vùi nông, tối đến bới lên
xẻo lấy thịt ăn, hoặc tang chủ đã lóc thịt thân nhân trước khi mai táng. Tàn
nhẫn hơn là nạn ăn thịt trẻ con, điển hình là chuyện xảy ra ở Đội sản xuất số
1, Đại đội 5, Công xã Đông Dương, huyện Sùng Khánh, Khu Ôn Giang, tỉnh Tứ Xuyên.
Theo lời Trịnh Đại Quân, nguyên cán
bộ Ban công tác nông thôn huyện Sùng Khánh. Đội sản xuất trên có 82 hộ, 491
nhân khẩu, chỉ trong một năm từ tháng 12.1959 đến tháng 11.1960, đã có 48 bé
gái 7 tuổi trở xuống bị người lớn ăn thịt, chiếm 90% số bé gái cùng độ tuổi ở
nơi này, 83% số gia đình ở đội này từng ăn thịt người.
Chuyện đau lòng đó diễn ra trong
bối cảnh lương thực hết sạch, mọi người từng nhiều ngày phải ăn giun dế, côn
trùng, lá cây, vỏ cây, cỏ dại, và cả đất thô. Kế toán Vương Giải Phóng
là người đầu tiên phát hiện vụ ăn thịt trẻ con. Hồi đó, tuy nhà ăn tập thể
thực tế đã ngừng hoạt động vì không còn lương thực nữa, nhưng lệnh cấm các
gia đình nấu nướng vẫn còn hiệu lực, bếp nhà ai nổi lửa là phạm pháp.
Đêm ấy, đến lượt Vương cùng hai
người khác đi tuần. Các mái nhà phủ trắng tuyết đầu mùa sáng hẳn lên khi vầng
trăng nhô ra khỏi đám mây. Nhóm tuần tra phát hiện một dải khói mỏng tỏa ra
từ mái nhà bần nông Mạc Nhị Oa.
Họ chia tay nhau bao vây vu hồi,
rồi đồng loạt bấm đèn pin nhảy vào nhà, nổ một phát súng cảnh cáo: tất cả
ngồi im ! Đèn dầu được châm lên, nhà Nhị Oa có 8 nhân khẩu, đã chết đói 2,
còn lại 6 người, nhưng lúc này chỉ thấy có 5. Thành viên thứ 6 là bé gái Thụ
Tài 3 tuổi vừa bị giết hại, xẻ ra lấy thịt, đang luộc trong nồi” (còn
nữa).
|
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
Loading...

